Khoảnh khắcSản phẩmKho tài liệuLuyện nétTừ điểnBlogCâu chuyệnLiên hệ
Ý nghĩa & văn hoá

Chữ Hán và chữ Nôm khác nhau như thế nào?

26 Th8 2026
Chữ Hán và chữ Nôm khác nhau như thế nào?

Vì sao đã có chữ Hán mà người Việt còn tạo chữ Nôm?

Nhiều người vẫn thường hỏi: “Người Việt ngày xưa đã học chữ Hán rồi, vậy tại sao không dùng luôn chữ Hán mà còn phải sáng tạo ra chữ Nôm?”

Thật ra, người Việt xưa không hề bỏ chữ Hán. Ngược lại, chữ Hán đã được sử dụng trong một thời gian rất dài trong hành chính, khoa cử, sử sách, ngoại giao và văn chương. Những người như Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du đều có khả năng sáng tác bằng Hán văn.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: tiếng Hán và tiếng Việt không phải cùng một ngôn ngữ.

Mình lấy một câu rất đơn giản để dễ hình dung: “Tôi nhớ mẹ.”

Nếu diễn đạt ý này bằng Hán văn, có thể viết gọn là:

吾思母 - Ngô tư mẫu.

Trong đó, – ngô là ta, tôi; – tư là nhớ, nghĩ đến; – mẫu là mẹ. Ý nghĩa vẫn là “tôi nhớ mẹ”, nhưng khi đọc lên, chúng ta đang đọc một câu Hán văn: Ngô tư mẫu, chứ không phải ba tiếng Việt tôi – nhớ – mẹ. Nhưng nếu người Việt muốn viết xuống giấy đúng những tiếng mình đang nói: Tôi – nhớ – mẹ thì chữ Nôm có thể ghi: 碎𢖵媄 - Tôi nhớ mẹ.

Điều thú vị nằm ngay trong ba chữ này: vốn là một chữ Hán, âm Hán Việt là toái, nhưng trong văn bản Nôm nó từng được mượn âm để ghi tiếng “tôi”.

chữ 𢖵 – nhớ, người Việt đã tạo một chữ có bộ tâm ở bên trái — gợi đến hoạt động tình cảm, tâm trí — và thành phần ở bên phải để gợi âm.

– mẹ cũng là một chữ Nôm được tạo theo lối ghép thành phần: có – nữ gợi nghĩa liên quan đến người nữ, và – mỹ làm phần gợi âm.

Như vậy, cùng một ý “tôi nhớ mẹ”, chúng ta có thể nhìn thấy hai cách khác nhau:

吾思母 – Ngô tư mẫu là diễn đạt bằng Hán văn.

Còn:

碎𢖵媄 – Tôi nhớ mẹ là dùng chữ Nôm để ghi trực tiếp một câu tiếng Việt.

Đây chính là điểm mình thấy quan trọng nhất: Người Việt không tạo chữ Nôm vì không muốn học chữ Hán. Ngược lại, chính nhờ đã hiểu và sử dụng chữ Hán, người Việt mới có thể mượn hình chữ, mượn âm, mượn nghĩa, lấy bộ thủ và ghép các thành phần lại với nhau để tạo ra một hệ thống phù hợp hơn với tiếng nói của mình.

Chữ Hán và chữ Nôm giống và khác nhau ở đâu?

Giống nhau như thế nào?

Một ví dụ rất dễ thấy là từ “hạnh phúc”.

Đây vốn là một từ Hán Việt, tương ứng với hai chữ 幸福. Chữ đọc là hạnh, chữ đọc là phúc. Vì âm đọc và ý nghĩa đã có sẵn, nên khi đi vào văn bản Nôm, người viết hoàn toàn có thể mượn nguyên hai chữ Hán này mà không cần tạo thêm một chữ mới.

Trường hợp này cho thấy chữ Nôm và chữ Hán có sự giao thoa rất lớn. Không phải hễ thấy một chữ có hình dạng Hán tự thì chắc chắn đó là “chữ Hán” theo nghĩa một văn bản Hán văn. Nhiều khi chính chữ ấy lại đang được dùng bên trong một văn bản Nôm.

Nói cách khác, chữ Nôm không tách rời hoàn toàn khỏi chữ Hán, mà dựa trên chữ Hán để vận dụng lại theo nhu cầu biểu đạt của tiếng Việt.

Chữ Hán

Chữ Nôm

– thiên – trời

𡗶 – trời

– thủy – nước

– nước

Nhìn vào hai ví dụ trên, có thể thấy sự khác nhau giữa chữ Hán và chữ Nôm không chỉ nằm ở hình dạng của con chữ.

là những chữ Hán đã có sẵn, được đọc theo âm Hán Việt là thiênthủy. Còn 𡗶 được dùng để ghi trực tiếp những tiếng Việt mà người Việt nói hằng ngày là trờinước.

Điều này cũng có nghĩa rằng khi đọc một văn bản Hán, người đọc phải hiểu hệ thống từ vựng và cú pháp của Hán văn. Nhưng khi đọc một văn bản Nôm, điều cần tìm lại phía sau những con chữ ấy chính là một câu tiếng Việt.

Chẳng hạn, trong Truyện Kiều, dù trên trang giấy là những ký tự mang hình thức gần với chữ Hán, khi đọc lên ta vẫn có:

“Trăm năm trong cõi người ta…”

Hay trong Quốc âm thi tập:

“Góc thành nam lều một căn…”

Đó là lý do mình nghĩ không nên phân biệt Hán và Nôm chỉ bằng câu hỏi “chữ này nhìn có giống chữ Hán hay không?”. Quan trọng hơn là phải xem chữ ấy đang được dùng để ghi Hán văn hay đang được dùng để ghi tiếng Việt.

Và cũng chính từ nhu cầu ghi được những tiếng Việt như “trời”, “nước”, “người”, “ta”… mà người xưa đã phải tìm cách mượn, ghép và biến đổi các thành phần của chữ Hán.

Vậy chữ Nôm được cấu tạo từ chữ Hán như thế nào? Vì sao chữ Nôm lại phức tạp?

Thoạt nhìn, chữ Nôm thường khiến người mới học thấy khó vì có những chữ rất nhiều nét. Nhưng khi thử tách từng chữ ra, mình mới nhận ra người xưa không tạo chữ một cách tùy ý. Phần lớn đều xoay quanh ba thứ đã có trong chữ Hán: hình chữ, âm đọc và ý nghĩa.

Từ ba yếu tố: hình chữ, âm đọc và ý nghĩa ấy, có thể hình dung cách người Việt tạo và sử dụng chữ Nôm qua 5 cách khá phổ biến.

Lưu ý: Cách chia dưới đây chỉ là một cách giản lược để người mới dễ hình dung về nguyên lý cấu tạo và sử dụng chữ Nôm. Trong nghiên cứu văn tự học, chữ Nôm còn được phân chia thành nhiều loại và tiểu loại chi tiết hơn, tùy theo quan hệ giữa thành tố biểu âm, biểu nghĩa và cách cải biến hình thể chữ. Vì vậy, 5 cách dưới đây không nên được hiểu là toàn bộ hệ thống cấu tạo chữ Nôm.

1. Mượn nguyên chữ Hán cả âm và nghĩa:

Đây là trường hợp đơn giản nhất. Một từ tiếng Việt vốn là từ Hán Việt, âm và nghĩa đều đã có chữ Hán tương ứng, nên người Việt có thể dùng nguyên chữ đó.

phúc

học

tâm

Khi những từ này xuất hiện trong câu tiếng Việt viết bằng chữ Nôm, không nhất thiết phải tạo thêm một chữ mới. Vì vậy, trong một văn bản Nôm, có rất nhiều ký tự nhìn giống hệt chữ Hán, bởi thực chất người viết đang mượn nguyên chữ Hán.

2. Mượn chữ Hán theo âm, không theo nghĩa gốc:

Một số chữ Nôm được tạo bằng cách mượn một chữ Hán có âm đọc gần với tiếng Việt cần ghi, nhưng không sử dụng nghĩa gốc của chữ Hán đó.

Ví dụ:

Âm Hán Việt

là một, nhưng trong chữ Hán nó không có nghĩa là con số 1.

Nghĩa Hán

chìm, mất, hết...

Âm Nôm được mượn

một – số 1

Người Việt thấy âm “một” phù hợp nên mượn nguyên chữ để ghi tiếng Việt “một” trong “một, hai, ba”. Ở đây người Việt chỉ cần âm, còn nghĩa Hán ban đầu được bỏ qua. Đây là dạng mượn âm thường được liên hệ với phép giả tá.

3. Mượn nghĩa của chữ Hán rồi đọc thành tiếng Việt:

Cách này gần như đi ngược lại cách trên. Thay vì quan tâm đến âm Hán Việt, người viết nhìn vào nghĩa của chữ rồi đọc bằng một từ tiếng Việt tương ứng.

Ví dụ:

Âm Hán Việt

là gia, nghĩa là nhà.

Cách ghi Nôm

chữ có thể được sử dụng và đọc theo nghĩa thành “nhà”

– gia → nhà

Ở đây hình chữ và ý nghĩa được giữ lại, nhưng âm đọc được chuyển sang tiếng Việt. Các nghiên cứu về cấu trúc chữ Nôm gọi đây là kiểu đọc theo nghĩa.

4. Ghép một phần gợi âm với một phần gợi nghĩa:

Đây là kiểu mà mình nghĩ dễ nhìn thấy sự sáng tạo của chữ Nôm nhất.

Ví dụ:

𠀧

(ba)

Người Việt lấy: – ba để gợi âm “ba”

– tam để gợi nghĩa số 3.

Ghép lại thành một chữ mới: 𠀧 – ba

Có thể hình dung:

𠀧 = phần gợi âm + phần gợi nghĩa

Một ví dụ khác là: 𤾓 – trăm

𤾓

(trăm)

– bách → gợi nghĩa một trăm

– lâm → làm thành phần gợi âm.

Đây là kiểu hình thanh, tức một bên cho người đọc manh mối về nghĩa, bên còn lại cho manh mối về cách phát âm. Hình thanh là một phương thức rất quan trọng trong quá trình tạo chữ Nôm. Khi hiểu nguyên tắc này, một chữ nhiều nét không còn hoàn toàn là một “cục chữ” phải học thuộc nữa. Ta có thể thử hỏi:

Phần nào cho mình biết nghĩa? Phần nào cho mình biết âm?

5. Ghép các thành phần dựa trên nghĩa – hội ý:

Không phải chữ Nôm tự tạo nào cũng cần một phần gợi âm.Có trường hợp người Việt ghép những thành phần có ý nghĩa liên quan với nhau để tạo nên một khái niệm mới.

Một ví dụ thường được các tài liệu dẫn là chữ Nôm “trời” – 𡗶.

Cách giải thích truyền thống nhìn chữ này từ các thành phần có liên hệ với thiên – trời và ý niệm ở trên, từ đó gợi ra khái niệm “trời”. Đây được xếp vào nhóm hội ý – dùng ý nghĩa của các thành phần để gợi nên nghĩa của chữ mới.

Vậy tại sao chữ Nôm lại phức tạp?

Đến đây mình nghĩ sẽ dễ hiểu hơn vì sao có những chữ Nôm nhìn rất nhiều nét.

Nếu chỉ mượn nguyên một chữ Hán như thì hình thức vẫn khá đơn giản. Nhưng khi cần ghi chính xác hơn một tiếng Việt, người xưa có thể phải lấy một phần để báo âm, rồi ghép thêm một phần để báo nghĩa. Hai thành phần vốn đã là chữ Hán có nhiều nét, ghép lại thì chữ mới tất nhiên càng phức tạp hơn. Nhưng số nét vẫn chưa phải điều khó nhất.

Khó hơn là chữ Nôm đã tồn tại qua nhiều thế kỷ mà không phải lúc nào cũng được chuẩn hóa thống nhất. Một tiếng Việt có thể có nhiều cách ghi khác nhau; có cách chỉ mượn âm, có cách về sau lại thêm phần gợi nghĩa để rõ hơn. Những nghiên cứu về lịch sử cấu tạo chữ Nôm cho thấy chính cấu trúc chữ cũng thay đổi theo sự biến đổi của tiếng Việt.

Cách hình thành

Lấy gì từ chữ Hán?

Ví dụ

Mượn cả âm và nghĩa

Hình + âm + nghĩa

– phúc

Mượn âm

Hình + âm

– một

Mượn nghĩa

Hình + nghĩa

– nhà

Hình thanh

Gợi âm + gợi nghĩa

𠀧 – ba

Hội ý

Nghĩa + nghĩa

𡗶 – trời

Vì vậy, học chữ Nôm không phải chỉ nhìn mặt chữ rồi học thuộc. Điều thú vị là phải thử “tháo” chữ ra xem người xưa đang mượn hình, mượn âm, mượn nghĩa hay ghép những thành phần nào với nhau.

Vậy học chữ Nôm thực chất là học gì?

Nếu mới bắt đầu, mình nghĩ rất nhiều người sẽ học chữ Nôm theo một cách khá giống nhau: mở từ điển lên, thấy chữ này đọc là “trời”, chữ kia đọc là “nước”, rồi cố nhớ mặt chữ.

Cách đó không sai, nhưng học lâu sẽ bắt đầu thấy rất mệt.

Bởi nếu chỉ học bằng trí nhớ, mỗi chữ Nôm gần như trở thành một hình riêng biệt. Gặp chữ quen thì nhớ, gặp chữ lạ thì lại phải tra từ đầu.

Nhưng khi bắt đầu hiểu cách chữ được cấu tạo, mọi thứ tự nhiên dễ nhìn hơn rất nhiều.

Thay vì chỉ hỏi:

“Chữ này đọc là gì?”

mình bắt đầu nhìn vào chữ rồi tự hỏi:

Phần nào đang gợi âm? Phần nào đang gợi nghĩa?

Và để làm được điều đó, nền tảng chữ Hán thực sự rất quan trọng. Bởi phần lớn chữ Nôm đều lấy chính chữ Hán làm vật liệu. Nếu mình biết một chữ Hán đọc theo âm Hán Việt là gì, mang nghĩa gì, thuộc bộ nào, thì khi nó xuất hiện bên trong một chữ Nôm, mình sẽ dễ đoán được vai trò của nó hơn.

Và cũng có lúc một chữ vừa quen vừa lạ, bởi người Việt đã lấy những thành phần Hán có sẵn rồi ghép lại theo nhu cầu của tiếng Việt. Nhưng học chữ Hán thôi vẫn chưa đủ. Càng đọc Nôm, mình càng thấy đây cũng là một cách học lại tiếng Việt của người xưa.

Có những chữ nếu chỉ nhìn theo cách phát âm tiếng Việt hiện đại thì mình thấy phần gợi âm rất khó hiểu, nhưng đặt nó vào lịch sử âm tiếng Việt thì lại bắt đầu có lý.

Ví dụ khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi hay Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhiều lúc mình không chỉ đang giải một chữ. Mình còn phải hiểu cả câu thơ, từ cổ, điển tích, ngữ cảnh và cách người xưa dùng tiếng Việt vào thời điểm ấy.

Có những chữ đứng riêng mình có thể phân vân giữa vài cách đọc. Nhưng khi đặt nó trở lại đúng câu thơ, nhìn vào nghĩa câu, nhịp điệu và văn cảnh, những cách đọc không phù hợp dần tự loại bỏ.

Vì vậy, mình thấy học chữ Nôm không giống học thuộc một bảng chữ cố định. Nó giống như lần theo dấu vết của một con chữ. Từ hình chữ, mình tìm xem nó được tạo từ đâu.

Từ đó tìm đến âm.

Từ âm lại tìm về nghĩa.

Rồi cuối cùng phải đặt tất cả trở lại trong câu văn mà người xưa đã viết.

Có lẽ cũng vì vậy mà chữ Nôm vừa khó, vừa rất cuốn.

Bởi càng học, mình càng nhận ra mình không chỉ đang học một loại chữ viết. Mình đang học chữ Hán để hiểu vật liệu tạo chữ, học âm Hán Việt để hiểu cách mượn âm, học tiếng Việt cổ để hiểu người xưa đang nói gì, và học văn cảnh để biết con chữ ấy thực sự phải được đọc như thế nào.

Và khi bắt đầu nhìn được chữ Nôm theo cách đó, nó không còn là một khối chữ quá nhiều nét để mình cố nhớ nữa. Nó bắt đầu trở thành một câu chuyện có logic ở bên trong.

Quay lại câu hỏi lúc đầu: “Người Việt ngày xưa đã biết chữ Hán rồi, vậy tại sao vẫn cần tạo ra chữ Nôm?”

Theo mình, câu trả lời nằm ngay trong chính tiếng Việt. Người Việt đã dùng chữ Hán và Hán văn trong suốt nhiều thế kỷ. Nhưng dù học chữ Hán đến đâu, người Việt vẫn nói một ngôn ngữ riêng, với những tiếng rất gần gũi như trời, nước, người, ta, thương, nhớ…

Và đến một lúc nào đó, người xưa không chỉ muốn diễn đạt ý của mình bằng Hán văn nữa. Họ muốn viết xuống giấy chính những tiếng mình đang nói hằng ngày.

Điều thú vị là người Việt không bỏ chữ Hán để bắt đầu lại từ đầu. Ngược lại, họ lấy chính hệ thống mình đã quen thuộc làm nền tảng: có chữ được mượn nguyên, có chữ mượn âm, có chữ mượn nghĩa, có chữ lại được ghép thêm các thành phần để tạo nên một cách ghi phù hợp với tiếng Việt.

Từ những cách vận dụng ấy, chữ Nôm dần hình thành và phát triển. Và nhờ vậy, hàng trăm năm sau, chúng ta vẫn có thể đọc được những câu như:

“Trăm năm trong cõi người ta…”

hay:

“Góc thành nam lều một căn…”

Điều mình thấy đặc biệt là những câu ấy không phải bản dịch từ một câu Hán văn nào khác.

Đó chính là tiếng Việt của người xưa đã được viết xuống và lưu lại cho đến hôm nay.

Có lẽ vì vậy, khi nhìn vào chữ Nôm, mình không chỉ thấy một hệ thống chữ viết nhiều nét và khó đọc. Mình còn thấy cách người Việt xưa đã tiếp nhận một thứ chữ từ bên ngoài, hiểu nó, sử dụng nó, rồi từ chính nền tảng ấy tìm ra cách để ghi lại tiếng nói của mình.

Vì thế, chữ Nôm không ra đời để phủ nhận chữ Hán.

Ngược lại, chữ Nôm được sinh ra từ nền tảng chữ Hán, nhưng mang theo nhu cầu rất riêng của người Việt: viết được chính tiếng Việt bằng chữ viết. Và có lẽ đó cũng là điều khiến chữ Nôm trở nên đặc biệt nhất đối với mình.

Mỗi khi đọc được một câu Nôm cổ, cảm giác không chỉ là mình vừa giải được vài con chữ.

Mà giống như mình vừa nghe lại được một tiếng nói của người Việt từ vài trăm năm trước. Chúc bạn học chữ Hán - Nôm thật tốt và thư giãn nhé

-----------------------------------------------

Nguồn tham khảo chính

Bài viết được tổng hợp và đối chiếu chủ yếu từ các nguồn nghiên cứu Hán Nôm, trong đó có:

Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Các bài nghiên cứu về chữ Hán, chữ Nôm, văn bản Nôm và lịch sử sử dụng Hán Nôm tại Việt Nam.

Nguyễn Quang Hồng – Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải: Bản số hóa do Vietnamese Nôm Preservation Foundation công bố. Từ điển cung cấp âm đọc, cấu trúc chữ, cách giải nghĩa và nhiều dẫn chứng trực tiếp từ các văn bản Nôm cổ.

Vietnamese Nôm Preservation Foundation: Kho tư liệu chữ Nôm số hóa, bao gồm Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải cùng nhiều văn bản và nguồn tư liệu phục vụ việc tra cứu chữ Nôm.

Sơ đồ phân loại cấu trúc chữ Nôm: dùng để tham khảo hệ thống phân loại chi tiết hơn về các kiểu cấu tạo chữ Nôm.

Do chữ Nôm có nhiều dị thể và cách dùng thay đổi theo từng thời kỳ, từng văn bản, bài viết ưu tiên đối chiếu các nguồn từ điển và văn bản có dẫn chứng thay vì xem một mặt chữ duy nhất là cách viết tuyệt đối.

Zalo

Giỏ hàng

Giỏ hàng trống.
Thêm sản phẩm để bắt đầu.
Tổng cộng