“Xuất Chinh - Chinh phụ Ngâm”
出征
渭橋頭清水溝 清水邊青草途
送君處兮心悠悠 君登途兮妾恨不如駒 君臨流兮妾恨不如舟
清清有流水 不洗妾心愁 青青有芳草 不忘妾心憂
語復語兮執君手 步一步兮牽君襦
妾心隨君似明月 君心萬里千山箭
擲離杯兮舞龍泉 橫征槊兮指虎穴
云隨介子獵樓蘭 笑向蠻溪談馬援
君穿壯服紅如霞 君騎驍馬白如雪
驍馬兮鸞鈴 征鼓兮人行
須臾中兮對面 頃刻裡兮分程
分程兮河梁 徘徊兮路旁
路旁一望兮旆央央 前車兮北細柳 後騎兮西長楊
騎車相擁君臨塞 楊柳那知妾斷腸
去去落梅聲漸遠 行行征旆色何忙
望雲去兮郎別妾 望山歸兮妾思郎
郎去程兮濛雨外 妾歸處兮昨夜房
歸去兩回顧 雲青兮山蒼
郎顧妾兮咸陽 妾顧郎兮瀟湘
瀟湘煙阻咸陽樹 咸陽樹隔瀟湘江
相顧不相見 青青陌上桑
陌上桑陌上桑 妾意君心誰短長
Diễn giải
Trải qua nhiều chiến trận lịch sử, người đời thường nhắc tới thắng lợi, sự tàn khốc của chiến tranh nhưng Đặng Trần Côn chọn lối đi riêng cho lối văn tả lòng người. Ông chọn chữ tình- tình nghĩa phu thuê, tình nghĩa nước non, và tình yêu của chính người phụ nữ.
Tiếp nối bài " Thời Loạn" là bài "Xuất Chinh". Ở một thời thế chiến tranh liên miên, cảnh vợ đưa chồng đến nơi lên đường, bên cầu, bên dòng nước, cỏ xanh.
渭橋頭清水溝
清水邊青草途
Vị kiều đầu thanh thủy câu,
Thanh thủy biên thanh thảo đồ.
送君處兮心悠悠
Tống quân xứ hề tâm du du.
君登途兮妾恨不如駒
Quân đăng đồ hề thiếp hận bất như câu.
君臨流兮妾恨不如舟
Quân lâm lưu hề thiếp hận bất như chu.
Cảnh vật rất đẹp nhưng tâm trạng lại buồn. Nàng ước mình có thể hóa thành ngựa để theo bước chồng, thành thuyền để theo dòng nước mà đi cùng chồng. Nước trong cũng không rửa được nỗi sầu, cỏ xanh cũng không khiến nàng quên được nỗi lo.
清清有流水
不洗妾心愁
Thanh thanh hữu lưu thủy,
Bất tẩy thiếp tâm sầu.
青青有芳草
不忘妾心憂
Thanh thanh hữu phương thảo,
Bất vong thiếp tâm ưu.
Đặng Trần Côn đưa ta về lại bến sông đó, đưa ta về lại bên dòng nước, cỏ xanh để chứng kiến sự chia ly đó. Có thể là 1 năm, 5 năm, 10 năm hoặc cũng có thể là cả một đời với chữ " đợi". Đặng Trần Côn cố ý lặp “清清 – thanh thanh” rồi “青青 – thanh thanh”: một bên là nước trong, một bên là cỏ xanh, cảnh vật càng thanh tươi thì lại càng tương phản với 愁 – sầu và 憂 – ưu trong lòng người chinh phụ.
語復語兮執君手
Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủ.
步一步兮牽君襦
Bộ nhất bộ hề khiên quân nhu.
妾心隨君似明月
Thiếp tâm tùy quân tự minh nguyệt.
君心萬里千山箭
Quân tâm vạn lý thiên sơn tiễn
Khoảnh khắc ấy- khoảnh khắc lưu luyến trước khi chia tay. Nàng nói đi nói lại, nắm tay chồng, từng bước níu lấy áo chồng. . Chàng đi một bước, nàng lại theo một bước, níu lấy vạt áo như muốn kéo dài thêm chút thời gian cuối cùng còn được ở bên nhau.
Không có lời than khóc dữ dội, Đặng Trần Côn chỉ dùng bàn tay nắm tay, bước chân theo bước chân, bàn tay níu vạt áo mà đã diễn được hết sự không nỡ rời.Rồi giọng thơ bất ngờ đổi khác.
Nếu những câu trước là sự níu kéo của người ở lại, thì từ đây, người chinh phu hiện lên với khí thế của một người bước vào chiến trận.
擲離杯兮舞龍泉
Trịch ly bôi hề vũ Long Tuyền.
橫征槊兮指虎穴
Hoành chinh sóc hề chỉ hổ huyệt.
Chén rượu ly biệt được ném xuống, gươm Long Tuyền vung lên. Cây giáo chinh chiến hướng thẳng về nơi hiểm nguy.
Một khoảnh khắc trước, chàng vẫn còn để người vợ nắm tay, níu áo. Một khoảnh khắc sau, chàng đã trở thành người chinh phu với gươm giáo trong tay.
Đặng Trần Côn đặt hai hình ảnh ấy cạnh nhau rất đắt.
Một bên là tình riêng.
Một bên là con đường chinh chiến.
Người vợ muốn giữ chồng lại bằng tình yêu, nhưng người chồng vẫn phải bước về phía trước với chí làm trai và nghĩa vụ của mình.
君穿壯服紅如霞
Quân xuyên tráng phục hồng như hà.
君騎驍馬白如雪
Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết.
Chàng mặc chiến phục đỏ như ráng trời, cưỡi chiến mã trắng như tuyết.
Hình ảnh người chinh phu lúc này đẹp, mạnh mẽ và đầy khí thế. Nhưng chính sự hào hùng ấy lại khiến nỗi buồn phía sau càng rõ hơn.
Bởi càng thấy chàng sẵn sàng lên đường bao nhiêu, ta càng hiểu rằng người vợ không thể giữ chàng lại bấy nhiêu.
Rồi tiếng trống chinh vang lên:
驍馬兮鸞鈴
Kiêu mã hề loan linh.
征鼓兮人行
Chinh cổ hề nhân hành.
Tiếng chuông chiến mã, tiếng trống xuất quân. Đoàn người bắt đầu đi, và cũng từ đó, cuộc chia ly thật sự bắt đầu.
須臾中兮對面
Tu du trung hề đối diện.
頃刻裡兮分程
Khoảnh khắc lý hề phân trình.
Mới trong chốc lát còn đứng trước mặt nhau, vậy mà chỉ một khoảnh khắc sau đã phải chia hai ngả.
Người chồng theo đoàn quân ra biên ải, còn người vợ vẫn bồi hồi đứng lại bên đường.
Rồi nàng cũng phải quay về.
郎去程兮濛雨外
Lang khứ trình hề mông vũ ngoại.
妾歸處兮昨夜房
Thiếp quy xứ hề tạc dạ phòng.
Chàng đã khuất ngoài màn mưa, còn nàng trở về căn phòng của đêm hôm trước.
Đêm qua nơi ấy còn có hai người.
Hôm nay chỉ còn một người trở về.
Nhưng dù đã mỗi người một hướng, cả hai vẫn còn ngoảnh lại tìm nhau.
Cho đến cuối cùng:
相顧不相見
Tương cố bất tương kiến.
Cùng ngoảnh nhìn nhau, mà đã chẳng còn thấy nhau nữa.
Đặng Trần Côn đã kéo cuộc chia ly từ một bàn tay còn nắm, một vạt áo còn níu, cho đến khi giữa hai người chỉ còn một hướng nhìn.
Người chinh phu bắt đầu cuộc chiến của mình từ lúc lên đường.
Còn người chinh phụ bắt đầu cuộc chiến của nàng từ lúc quay về — một cuộc chiến với nhớ mong, cô độc và những tháng năm không biết phải đợi đến bao giờ.
Có lẽ vì vậy, “Xuất Chinh” không chỉ kể chuyện một người ra trận, mà còn cho ta thấy cái giá của chiến tranh đối với những người ở lại.