Ở bài “Chữ Hán và chữ Nôm khác nhau như thế nào?”, Góc Thơ Thẩn đã đi qua câu hỏi nền tảng: vì sao người Việt đã biết chữ Hán nhưng vẫn cần một hệ chữ để ghi trực tiếp tiếng Việt. Bài này đi sâu hơn một bước: thay vì chỉ nhìn một chữ Nôm và học thuộc cách đọc, ta thử tháo nó ra để xem người xưa đang mượn cái gì từ chữ Hán – hình chữ, âm đọc, nghĩa – và đã ghép chúng lại như thế nào. Đọc bài nền: Chữ Hán và chữ Nôm khác nhau như thế nào?
Điểm cần nói trước là chữ Nôm không có một “bảng chữ cái” cố định theo kiểu mỗi âm chỉ tương ứng với một ký tự. Một tiếng Việt có thể được ghi bằng nhiều tự dạng qua các thời kỳ và văn bản khác nhau. Ngược lại, cùng một tự dạng đôi khi có thể được chuyển dụng để ghi nhiều tiếng. Vì vậy, học cấu tạo chữ Nôm thực chất là học cách nhìn quan hệ giữa hình – âm – nghĩa và luôn kiểm tra lại bằng văn cảnh.
Năm hình thức trong bài này là một bản đồ nhập môn để người mới dễ quan sát. Trong văn tự học chuyên sâu, hệ thống chữ Nôm được chia chi tiết hơn nhiều; Nguyễn Quang Hồng phân biệt hai khối lớn là chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo, rồi tiếp tục chia thành nhiều kiểu và tiểu kiểu.

1. Trước khi học 5 hình thức: phân biệt “mượn” và “tự tạo”
Nếu chỉ nhìn bề mặt, rất dễ nghĩ rằng chữ nào trông giống chữ Hán thì là chữ Hán, còn chữ nào lạ mắt mới là chữ Nôm. Cách nhìn đó không đủ. Trong văn bản Nôm, một lượng lớn chữ Hán được mượn nguyên; đồng thời có những chữ Nôm tự tạo lại ngẫu nhiên trùng hình với chữ từng xuất hiện trong Hán văn. Vì thế, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng phải xét cả cấu trúc nội tại, âm đọc và nghĩa mà chữ đang đại diện trong tiếng Việt.
Một cách chia có ích cho người mới là đặt câu hỏi đầu tiên: chữ này đang mượn nguyên một tự dạng có sẵn, hay người Việt đã tạo/cải biến một cấu trúc mới? Với chữ mượn, quan hệ âm – nghĩa nằm ở cách người Việt “đọc lại” một chữ có sẵn. Với chữ tự tạo, ta thường có thể tách chữ thành những thành tố bên trong và hỏi mỗi thành tố đang làm nhiệm vụ gì.
Nhóm lớn | Cách nhận diện | Ví dụ trong bài |
|---|---|---|
Chữ Nôm mượn Hán | Mượn một tự dạng có sẵn; có thể giữ âm, giữ nghĩa hoặc chỉ giữ một trong hai. | 福 – phúc; 沒 – một; 爪 – vuốt |
Chữ Nôm tự tạo / cấu trúc nội tại | Có thể tách thành các thành tố làm nhiệm vụ gợi âm, gợi nghĩa hoặc cùng góp nghĩa. | 媄 – mẹ; “nhớ” (𢖵 – U+225B5); 渃 – nước; “trời” (𡗶 – U+215F6) |
Trong Khái luận văn tự học chữ Nôm, Nguyễn Quang Hồng xây dựng một sơ đồ tổng quát chi tiết hơn; phần giới thiệu của Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải cũng cho biết sơ đồ này phân loại nhiều kiểu cấu trúc thay vì chỉ 5 nhóm giản lược. Một bài tổng quan về công trình còn tóm tắt rằng hệ thống ấy gồm 5 kiểu chữ Nôm mượn Hán và 8 kiểu chữ Nôm tự tạo.
2. Năm hình thức cấu tạo chữ Nôm thường gặp
2.1. Mượn nguyên chữ Hán cả âm và nghĩa
Đây là trường hợp dễ nhận ra nhất. Một tiếng Việt thuộc lớp từ Hán Việt đã có sẵn chữ Hán tương ứng, nên khi viết Nôm người ta có thể dùng nguyên chữ đó. Hình chữ giữ nguyên, âm đọc Hán Việt vẫn phù hợp và nghĩa cũng không thay đổi.
Ví dụ: 福 – phúc. Trong Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải, 福 được xếp loại A1 và được dẫn trong nhiều văn bản Nôm với nghĩa “điều tốt lành, may mắn”. Đây là lý do một văn bản Nôm có thể chứa rất nhiều ký tự hoàn toàn giống Hán tự: người viết không cần tạo chữ mới cho những từ đã có cả âm lẫn nghĩa phù hợp. [1]
Điểm dễ nhầm nằm ở chỗ: nhìn thấy 福, 心, 學 hay 命 trong một văn bản không đủ để kết luận câu ấy đang viết bằng Hán văn. Cần xem toàn bộ cú pháp và chuỗi từ đang ghi tiếng Hán hay tiếng Việt. Chữ Nôm là một hệ thống vận dụng chữ Hán, nên việc “chữ Hán nằm trong văn Nôm” là chuyện bình thường.

2.2. Mượn âm của chữ Hán nhưng bỏ nghĩa gốc
Ở hình thức này, người viết cần một “vỏ âm thanh”. Một chữ Hán được chọn vì âm Hán Việt hoặc âm cổ của nó gần với tiếng Việt cần ghi; nghĩa gốc của chữ Hán lúc này không còn quyết định cách hiểu. Đây là cơ chế rất quan trọng vì tiếng Việt có rất nhiều từ thuần Việt không có một chữ Hán đồng nghĩa sẵn để dùng.
Ví dụ điển hình là 沒/没. Trong Hán văn, chữ này có các nghĩa như chìm, mất, hết; nhưng trong văn Nôm, 沒 từng được dùng để ghi tiếng “một” – số 1. Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải xếp cách dùng “một” của 没 vào nhóm mượn âm và dẫn ngay câu Truyện Kiều “Một người một vẻ, mười phân vẹn mười”. [2]
Mượn âm không chỉ có một mức độ. Tư liệu về chữ Nôm trên văn khắc Lý – Trần cho thấy có trường hợp âm gần như trùng với âm Hán Việt, chẳng hạn 波 – ba để ghi số “ba”; và cũng có trường hợp đọc chệch hơn như 皮 – bì dùng để ghi “bờ”, 廚 – trù dùng để ghi “chùa”. Vì vậy, “mượn âm” nên được hiểu là một phổ quan hệ ngữ âm chứ không phải lúc nào cũng đồng âm tuyệt đối.

Khi gặp một chữ mượn âm, nếu cố dịch nghĩa Hán của nó vào câu tiếng Việt thì rất dễ hiểu sai. Trước tiên phải hỏi: chữ này đang “nói bằng nghĩa”, hay chỉ đang “cho mượn âm”?
2.3. Mượn nghĩa của chữ Hán rồi đọc bằng tiếng Việt
Cơ chế này đi theo chiều ngược lại với mượn âm. Người viết giữ tự dạng và nghĩa của chữ Hán nhưng không đọc theo âm Hán Việt; thay vào đó, chữ được đọc bằng một tiếng Việt có nghĩa tương ứng. Trong các hệ phân loại, nhóm này thường được gọi là mượn nghĩa và chiếm tỉ lệ khá nhỏ, vì vậy khi nhận diện cần thận trọng hơn mượn âm.
Ví dụ kinh điển là 爪. Âm Hán Việt của 爪 là “trảo”, nghĩa là móng hoặc vuốt. Trong cách dùng Nôm, tự dạng 爪 có thể được đọc bằng tiếng Việt “vuốt”: quan hệ nghĩa được giữ, còn quan hệ âm “trảo → vuốt” không phải cơ sở của cách đọc. Các bảng phân loại chuyên ngành dùng chính 爪 – vuốt như ví dụ tiêu biểu cho nhóm mượn nghĩa. [3]
Đây cũng là lý do không nên tự suy ra quá nhanh rằng cứ một chữ Hán có nghĩa gần với một từ Việt thì chữ đó chắc chắn là chữ Nôm mượn nghĩa. Một nghiên cứu riêng về nhóm này cho thấy số lượng và tiêu chí nhận diện từng gây nhiều khác biệt giữa các bộ từ điển; muốn kết luận phải có ngữ cảnh văn bản và chứng cứ dùng chữ cụ thể.

2.4. Ghép phần gợi nghĩa với phần gợi âm – hình thanh
Đây là nhóm quan trọng nhất để người mới bắt đầu “thấy logic” bên trong một chữ Nôm nhiều nét. Thay vì chỉ mượn nguyên một chữ, người viết ghép hai chức năng: một thành tố giúp khoanh vùng nghĩa, thành tố còn lại gợi cách phát âm. Bộ thủ hoặc thành tố nghĩa giống như một chiếc biển chỉ đường, còn thành tố âm cung cấp manh mối để đọc.
Ví dụ 媄 – mẹ. Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải phân tích 媄 theo cấu trúc 女 – nữ + 美 – mỹ: 女 định hướng trường nghĩa liên quan đến người nữ, còn 美 làm thành tố gợi âm. Từ điển đồng thời ghi 媄 “như 美 mẹ”, cho thấy cùng một tiếng có thể từng được ghi bằng một dạng đơn giản hơn rồi được gia thêm thành tố nghĩa để dễ phân biệt hơn. [4]

Hình thanh không chỉ có một kiểu bố trí trái – phải. Thành tố nghĩa và âm có thể nằm trái, phải, trên, dưới hoặc được giản hóa. Một vài ví dụ rất rõ trong Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải:
Chữ Nôm | Đọc | Thành tố gợi nghĩa | Thành tố gợi âm |
|---|---|---|---|
媄 | mẹ | 女 – nữ | 美 – mỹ |
𢖵 (U+225B5) | nhớ | 忄 – tâm | 女 – nhữ/nữ |
渃 | nước | 氵 – thủy | 若 / 匿 – nhược/nặc |
岧 | đèo | 山 – sơn | 召 – triệu |
Có một điều rất đáng chú ý: phần gợi âm không nhất thiết phải “nghe giống hệt” âm tiếng Việt hiện đại. Chữ Nôm hình thành và được sử dụng qua nhiều thế kỷ, trong khi âm tiếng Việt và âm Hán Việt đều biến đổi. Vì vậy, một thành tố gợi âm có vẻ xa lạ với tai người hiện nay vẫn có thể hợp lý nếu đặt trong lịch sử ngữ âm. Đây là lý do đọc Nôm sâu hơn luôn chạm đến âm vận học và tiếng Việt lịch sử.
Các mục từ “nhớ” (𢖵 – U+225B5), 渃 – nước và 岧 – đèo trong Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải đều được phân tích theo kiểu F2: một bộ/thành tố định hướng nghĩa kết hợp với thành tố gợi âm. [5]
2.5. Ghép các thành phần dựa trên nghĩa – hội ý
Không phải mọi chữ Nôm tự tạo đều cần một thành tố báo âm. Ở một số chữ, các thành tố được ghép vì ý nghĩa của chúng cùng góp phần gợi ra khái niệm mới. Với cách giải thích nhập môn, đây là nhóm hội ý – nghĩa cộng với nghĩa.
Ví dụ thường dùng là chữ Nôm “trời” 𡗶 (U+215F6). Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải phân tích tự dạng này từ 天 – thiên và 上 – thượng; trang tra cứu cấu trúc cũng ghi cấu trúc xếp 天 ở trên 上. Nói theo lối dễ học: ý niệm “trời” kết hợp với ý niệm “ở trên” để gợi tiếng “trời”. [6]

Tuy nhiên, hội ý là chỗ người mới rất dễ “sáng tác ngược” một cách giải thích nghe có vẻ hợp lý nhưng không có chứng cứ. Không nên thấy hai bộ phận có nghĩa rồi tự ghép câu chuyện cho chữ. Cách phân tích tốt cần dựa vào từ điển văn tự học, cấu trúc đã được khảo chứng và dẫn chứng văn bản. Một số hệ phân loại chuyên sâu cũng dùng ký hiệu và tiêu chí khác với cách gọi “hội ý” giản lược ở đây.
3. Vì sao một tiếng Việt có thể có nhiều cách viết Nôm?
Đây là chỗ làm chữ Nôm vừa khó vừa thú vị. Không có một cơ quan trung ương qua mọi thời kỳ quy định rằng mỗi tiếng Việt chỉ được viết bằng đúng một chữ. Người viết có thể chọn một chữ mượn âm đơn giản; về sau, để tránh nhầm, người khác thêm bộ phận gợi nghĩa; ở văn bản khác lại dùng một tự dạng đã quen trong vùng hoặc trong truyền bản ấy.
Trường hợp “mẹ” cho thấy điều này khá rõ. Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải ghi 媄 – mẹ với cấu trúc 女 + 美 và chú “như 美 mẹ”. Có thể nhìn đây như hai mức độ ghi: một dạng dựa nhiều vào thành tố âm, và một dạng bổ sung 女 để người đọc nhận ra ngay trường nghĩa liên quan đến nữ giới. Chính nhu cầu làm rõ nghĩa khiến nhiều chữ Nôm về sau trở nên nhiều nét hơn.
Tương tự, chữ “trời” cũng có nhiều tự dạng được ghi nhận. Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải có cả 𡗶 (U+215F6) và một dạng đảo vị trí thành tố 𫯝 (U+2BBDD); điều này nhắc rằng “cấu tạo” không chỉ là câu chuyện một công thức tạo ra một hình chữ duy nhất. Nó còn là lịch sử sử dụng, dị thể, truyền bản và thói quen viết.
Vì vậy, hỏi “chữ Nôm của từ này là chữ nào?” đôi khi chưa đủ. Câu hỏi chính xác hơn là: “Trong văn bản nào, thời kỳ nào và theo tự dạng nào, tiếng này được ghi ra sao?”
4. Cách tự phân tích một chữ Nôm lạ
Khi gặp một chữ chưa biết, đừng bắt đầu bằng việc đoán âm. Một quy trình đơn giản nhưng khá hiệu quả là đi từ hình thức đến chức năng rồi mới quay lại văn cảnh. Cách này đặc biệt hữu ích khi đọc những văn bản như Quốc âm thi tập, Truyện Kiều, Cư trần lạc đạo phú hay Đại Nam quốc sử diễn ca.

Bước 1 – Kiểm tra xem có phải chữ Hán được mượn nguyên hay không
Tra tự dạng trong từ điển Hán và từ điển Nôm. Nếu chữ có sẵn trong Hán tự, vẫn chưa thể kết luận cách dùng; cần xem âm Hán Việt và nghĩa Hán có khớp với tiếng Việt trong câu hay không.
Bước 2 – Nếu là chữ mượn, xác định đang mượn âm hay mượn nghĩa
Nếu âm gần nhưng nghĩa không liên quan, nghĩ đến mượn âm. Nếu nghĩa trùng nhưng âm Hán Việt không liên hệ với tiếng Việt cần đọc, có thể nghĩ đến mượn nghĩa. Cả hai bước đều phải đối chiếu văn cảnh.
Bước 3 – Nếu là chữ ghép, tách thành tố và xác định chức năng
Hãy tìm bộ thủ hoặc thành tố định hướng trường nghĩa trước: thủy thường gợi nước/chất lỏng, tâm gợi hoạt động tâm trí/tình cảm, nữ gợi người nữ, sơn gợi núi… Sau đó xem phần còn lại có khả năng gợi âm nào. Đây là lúc kiến thức chữ Hán trở thành “bộ công cụ” thay vì mục tiêu cuối cùng.
Bước 4 – Đặt cách đọc trở lại câu văn
Một cách đọc chỉ thật sự có giá trị khi khớp nghĩa câu, cú pháp, nhịp điệu và dẫn chứng văn bản. Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải đặc biệt hữu ích vì mỗi mục từ không chỉ cho âm đọc và cấu trúc mà còn dẫn câu thực tế từ các tác phẩm Nôm. Chính dẫn chứng ấy giúp phân biệt một cách đọc có căn cứ với một suy đoán đẹp nhưng thiếu chứng cứ.
5. Năm nhóm này giúp học dễ hơn, nhưng không phải toàn bộ chữ Nôm
Nếu đọc đến đây và thấy mọi thứ bắt đầu “có logic”, đó chính là mục tiêu của cách chia 5 nhóm. Tuy nhiên, không nên dừng lại ở việc gắn nhãn. Hệ phân loại chuyên ngành còn có chữ mượn âm chính xác và đọc chệch, chữ có ký hiệu phụ, chữ cải biến thêm/bớt nét, các kiểu hình thanh với thành tố âm khác nhau, thậm chí “hội âm” – hai thành tố cùng tham gia biểu âm – là một hiện tượng được nghiên cứu riêng trong chữ Nôm Việt.
Sơ đồ cấu trúc của Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải được xây dựng trên Khái luận văn tự học chữ Nôm của Nguyễn Quang Hồng; các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng cho thấy việc phân định chữ mượn và chữ tự tạo đôi khi không thể chỉ dựa vào mặt chữ, bởi có trường hợp chữ Nôm tự tạo ngẫu nhiên trùng hình với một chữ Hán hiếm. [7]
Vì vậy, cách học tốt nhất không phải là cố nhớ thật nhiều mặt chữ rời rạc. Hãy học cách đặt câu hỏi: chữ này mượn gì, phần nào gợi âm, phần nào gợi nghĩa, và chứng cứ nào trong văn bản cho phép mình đọc như vậy. Khi quen với cách nhìn ấy, chữ Nôm không còn chỉ là một “khối nét” khó nhớ mà trở thành một cấu trúc có lịch sử và lý do tồn tại bên trong.
Học chữ Nôm không chỉ là học “chữ này đọc là gì”. Cái thú vị hơn là lần theo con đường từ hình chữ → âm → nghĩa → văn cảnh, để thấy người Việt xưa đã dùng vật liệu chữ Hán như thế nào để ghi lại chính tiếng nói của mình.
Nguồn tham khảo và dẫn chứng
[1] Nguyễn Quang Hồng – Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải, mục 福 – phúc. Mở nguồn
[2] Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải, mục 没/沒 – một; có dẫn Truyện Kiều. Mở nguồn
[3] Các công trình phân loại chữ Nôm dùng 爪 – vuốt làm ví dụ nhóm mượn nghĩa; xem tổng quan mô hình phân loại tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Mở nguồn
[4] Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải, mục 媄 – mẹ: 女 + 美, loại F2. Mở nguồn
[5] Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải: các mục “nhớ” (𢖵 – U+225B5) – nhớ, 渃 – nước, 岧 – đèo. Mở nguồn
[6] Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải, mục “trời” 𡗶 (U+215F6): 天 + 上. Mở nguồn
[7] Sơ đồ phân loại cấu trúc chữ Nôm – Vietnamese Nôm Preservation Foundation; dựa trên Khái luận văn tự học chữ Nôm (Nguyễn Quang Hồng, 2008). Mở nguồn
[8] Viện Nghiên cứu Hán Nôm – “Góp phần phân định chữ Nôm tự tạo và chữ Nôm mượn Hán”. Mở nguồn

